Nội dung
CÁC DẠNG CỦA MÔ HÌNH SÓNG ELLIOT ĐIỀU CHỈNH
Mô hình Zig-zag
Mô hình sóng Zigzag (ZZ) có cấu trúc 3 sóng được đánh dấu A-B-C, nhìn chung di chuyển ngược với xu hướng chính. Mô hình ZigZag thường xuất hiện ở sóng A hoặc sóng 2. Nó cũng thường xuất hiện ở sóng B là một phần của mô hình Flat, một phần của mô hình tam giác và đôi khi ở sóng 4. Đây là một trong những mô hình sóng Elliott điều chỉnh phổ biến nhất.
Mô hình ZigZag đơn (Single ZigZag) gồm 3 sóng. Mô hình Double ZigZag gồm 7 sóng được chia tách bằng sóng X ở giữa. Mô hình Triple ZigZag gồm 11 sóng được chia tách bằng 2 sóng X ở giữa. Cấu trúc bên trong của sóng 3 trong Single ZigZag là 5-3-5, trong Double ZigZag là 5-3-5-3-5-3-5.
Mô hình phẳng
Mô hình sóng Flat là một cấu trúc sóng điều chỉnh rất phổ biến, thường thể hiện xu hướng giá sideway. Sóng A và Sóng B đều theo các mô hình điều chỉnh. Ngược lại, Sóng C tuân theo mô hình sóng chủ. Thông thường, Sóng C sẽ không vượt qua điểm cuối của Sóng A, nhưng đôi khi cũng có thể vượt qua. Quy tắc Sóng A và Sóng B theo cấu trúc sóng điều chỉnh, Sóng C theo cấu trúc sóng chủ. Sóng B thường hồi lại ít nhất 61.8% so với đoạn giá trị của Sóng A. Sóng B thường cho thấy mức hồi hoàn toàn đến điểm cuối của sóng chủ trước đó. Sóng C không nên vượt qua điểm cuối của Sóng A. Thường thì Sóng C có độ dài tương đương với Sóng A.

Mô hình tam giác
Mô hình sóng Triangle (mô hình tam giác) là mô hình sóng điều chỉnh. Có 2 dạng mô hình tam giác phổ biến là Contracting Triangle (CT) và Expanding Triangle (ET).
Các mô hình này điều chỉnh có cấu trúc 5 sóng, được đánh dấu A-B-C-D-E tương ứng cấu trúc 3-3-3-3-3, di chuyển trong 2 đường kênh giá hội tụ (contracting) hoặc mở rộng (expanding) được vẽ từ A đến C và từ B đến D.
Mô hình sóng Triangle xuất hiện ở các sóng 4. Nó không bao giờ xuất hiện ở sóng 2.
Sóng Triangle thường xuất hiện trước sóng chuyển động cuối cùng theo xu hướng chính của cấp độ sóng lớn hơn tiếp theo. Sau sóng chuyển động cuối cùng thường là cú đảo chiều giá nhanh và mạnh..

Cách diễn giải của Elliott về tam giác
Tương tự như cách giải thích truyền thống trước đó, nhưng có độ chính xác cao hơn. Tam giác thường là một mô hình tiếp diễn và tam giác của Elliott là một mô hình củng cố không rõ xu hướng, có 5 sóng trong đó mỗi sóng gồm 3 sóng nhỏ.
Elliott chia thành 4 loại tam giác khác nhau – tăng, giảm, đối xứng và mở rộng. Hình minh họa trên thể hiện 4 dạng biến thể trong cả xu hướng tăng và giảm.
Lý thuyết sóng Elliott cũng cho rằng sóng thứ năm và sóng cuối cùng trong tam giác đôi khi lại phá vỡ đường xu hướng của chính nó, tạo ra một tín hiệu ngụy tạo trước khi thực sự bắt đầu một cú phá vỡ theo hướng ban đầu.
Cách đo lường sóng thứ năm và sóng cuối cùng của Elliott sau khi một tam giác hình thành về cơ bản là giống với cách sử dụng đồ thị kinh điển, đó là dự đoán thị trường sẽ biến động một khoảng tương ứng với phần rộng nhất của tam giác (chiều cao).
Ngoài ra cũng cần phải lưu ý thời gian hình thành nên đỉnh hoặc đáy cuối cùng. Theo Prechter thì đỉnh của tam giác (nơi hai đường xu hướng gặp nhau) thường đánh dấu thời điểm hình thành sóng thứ năm cuối cùng.
—-
Trên đây là những diễn giải cơ bản nhất về các mô hình sóng Elliot điều chỉnh, Nhadautu79 hy vọng các bạn có thể áp dụng được những kiến thức trên vào thực tế giao dịch để tránh được những sai lầm khi thực chiến.
Xem thêm:
Tìm hiểu những kiến thức cơ bản về lý thuyết sóng Elliott (phần 1)
Tìm hiểu những kiến thức cơ bản về lý thuyết sóng Elliot (phần 2)
